Hội chứng suy thận cấp

Chào bạn, nếu bạn là sinh viên Y Khoa đã, đang hoặc sắp đi thực hành lâm sàng tại bệnh viện thì không nên bỏ qua Khóa học kiến thức lâm sàng nội khoa này nhé! Đây là khóa học chất lượng được đánh giá cao bởi khoảng 400 thành viên đăng ký là các sinh viên Y Khoa trên khắp cả nước và các bác sĩ nội khoa.

HỘI CHỨNG SUY THẬN CẤP

Chẩn đoán xác định Hội chứng suy thận cấp cần dựa vào:

Có nguyên nhân cấp tính dẫn đến suy thận cấp như: uống mật cá trắm, ngộ độc kim loại nặng, ỉa chảy mất nước, viêm cầu thận cấp, v.v.. (bảng nguyên nhân suy thận cấp)

Xuất hiện: Hội chứng rối loạn thể tích nước tiểu (thiểu niệu, vô niệu).

Tốc độ gia tăng Urea, Creatinin máu so với nồng độ nền (baseline) của bệnh nhân trong vòng vài giờ đến vài ngày

K+ máu tăng dần

Có thể có rối loạn thăng bằng toan – kiềm đi kèm (thường là toan chuyển hóa)

Dựa vào tính chất cấp tính: (1) chức năng thận bình thường trước đó; (2) kích thước thận bình thường hoặc lớn; (3) không có thiếu máu, không có hạ Ca2+ máu

Thường tóm tắt trên bệnh nhân suy thận cấp được các HC sau: HC tăng urea máu

+ HC bất thường màu sắc nước tiểu + HC bất thường thể tích nước tiểu + có thể có các HC nhiễm trùng, HC rối loạn nước – điện giải

Nguyên nhân gây suy thận cấp tuy khác nhau nhưng lại có cùng một bệnh cảnh lâm sàng trải qua 4 giai đoạn. Thể điển hình tiến triển qua 4 giai đoạn như sau (hoại tử ống thận cấp gây suy thận cấp là một thể điển hình)

GIAI ĐOẠN KHỞI PHÁT

Đây được hiểu là giai đoạn tính từ lúc nguyên nhân gây bệnh tác động cho đến bắt đầu giai đoạn thiểu niệu – vô niệu. Giai đoạn này kéo dài từ vài giờ đến vài ngày (thường < 24 giờ) tùy theo nguyên nhân mà có các triệu chứng khởi phát. Ví dụ:

Do ngộ độc mật cá trắm: đau bụng, buồn nôn, ỉa lỏng

Do tắc niệu quản: cơn đau quặn thận

Do shock: mạch nhanh, tụt HA, có thể có HA kẹp

Can thiệp kịp thời có thể tránh chuyển sang giai đoạn thiểu niệu – vô niệu

GIAI ĐOẠN THIỂU NIỆU HAY VÔ NIỆU

Cơ năng

Thiểu niệu – vô niệu: có thể diễn biến từ thiểu niệu đến vô niệu một cách từ từ hoặc đột ngột vô niệu (nhất là trong trường hợp ngộ độc), kéo dài vài ngày cho đến dưới 6 tuần (trung bình 7-14 ngày) bệnh

nhân sẽ bước vài giai đoạn đái trở lại

Có thể đau vùng hố thắt lưng, đôi khi đau kiểu cơn đau quặn thận do nguyên nhân sau thận

Thực thể

Có thể có phù: tùy vào lượng nước đưa vào cơ thể

Có thể thấy triệu chứng của tăng K+

Có thể thấy kiểu thở Kussmaul do toan chuyển hóa

Khám thấy các triệu chứng của Hội chứng tăng Urea máu có thể nhẹ hoặc nặng

Cận lâm sàng

Điện giải đồ:

K+ có thể tăng dần nếu không được điều trị

Na+, Cl, Ca2+ thường giảm do bị hòa loãng máu

Xét nghiệm máu:

Urea, Creatinin tăng phụ thuộc vào mức độ vô niệu (tuy nhiên Urea phụ thuộc vào chế độ ăn và quá trình giáng hóa protid

trong cơ thể còn Creatinin thì không phụ thuộc nên phản ánh chức năng thận chính xác hơn)

Protein máu thường giảm

Xét nghiệm nước tiểu: protein máu có thể dương tính, có thể thấy trụ hạt màu nâu bẩn, có thể có hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô,

khuẩn trong nước tiểu

Khí máu: HCO3 giảm, pH giảm

GIAI ĐOẠN ĐÁI TRỞ LẠI (TIỂU NHIỀU)

Giai đoạn này được tính từ khi bệnh nhân bắt đầu đái trở lại đến khi Urea, Creatinin máu bắt đầu giảm (thường 5-7 ngày)

Cơ năng

Lượng nước tiểu tăng dần đạt đến 2 lít/24h hoặc hơn (đa niệu, có khi 4-5 lít/24h)

Các triệu chứng giảm dần về bình thường

Thực thể

Phù giảm bớt

Khám lâm sàng có thể vẫn còn triệu chứng của Hội chứng tăng Urea

máu trong giai đoạn đầu đái trở lại

Huyết áp dần trở lại bình thường

Nguy cơ đa niệu có thể dẫn đến mất nước, mất điện giải

Cận lâm sàng

Các thông số dần trở về bình thường ngoại trừ Urea, Creatinin

Nếu đái quá nhiều nguy cơ hạ K+, Na+

GIAI ĐOẠN HỒI PHỤC

Được tính từ khi Urea, Creatinin máu bắt đầu giảm cho đến khi các chức năng thận hồi phục trở lại bình thường (thường kéo dài khoảng 4 tuần)

Cơ năng

Đa niệu kéo dài thêm khoảng 1 tuần sau khi Urea, Creatinin máu bắt đầu giảm

Thực thể

Các triệu chứng lâm sàng trở về bình thường

Nguy cơ mất nước và điện giải trong giai đoạn đa niệu

Cận lâm sàng

Điện giải đồ: nguy cơ mất Na+, K+ trong thời gian đa niệu

Xét nghiệm máu: Urea, Creatinin bắt đầu giảm dần về giá trị bình thường

Xét nghiệm nước tiểu: Urea, Creatinin niệu tăng dần

Mức lọc cầu thận (GFR) trở về bình thường (thường sau 1-2 tháng) o Thăm dò chức năng ống thận (khả năng cô đặc nước tiểu): trở về

bình thường chậm hơn (có khi 6 12 tháng)

Đăng ký nhận thông báo
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả các bình luận
You cannot copy content of this page
Khóa học
Nội quy
Thành tích
Thảo luận
Lịch sử
Tài khoản
Copy link
Powered by Social Snap