Hội chứng tăng ure máu

Chào bạn, nếu bạn là sinh viên Y Khoa đã, đang hoặc sắp đi thực hành lâm sàng tại bệnh viện thì không nên bỏ qua Khóa học kiến thức lâm sàng nội khoa này nhé! Đây là khóa học chất lượng được đánh giá cao bởi khoảng 400 thành viên đăng ký là các sinh viên Y Khoa trên khắp cả nước và các bác sĩ nội khoa.

Một trong những vai trò của thận là lọc, thải hết các chất sản sinh do các quá trình tổng hợp trong cơ thể. Vì vậy khi nhiệm vụ này bị rối loạn, một số chất sẽ ứ lại trong máu và nhất là Urê máu mà trong lâm sàng thường biểu hiện dưới hình thái “ Hội chứng Urê máu cao ”.

Bình thường lượng Urê máu khoảng từ 0,2 – 0,4 g/l. Urê máu được tổng hợp ở gan từ nguồn Nitơ trong huyết tương (do nguồn Protid được cung cấp qua thức ăn, uống, truyền..) và do sự hủy hoại tổ chức trong cơ thể.

Lượng Nitơ Urê chiếm 50% lượng Nitơ toàn phần, 50% còn lại là Nitơ cặn bã như NH3, Acid Uric, Creatinine, Acid Amin, Polipeptid, Indoxyl. Vì vậy để đánh giá tình trạng suy thận người ta cho thử Urê và Creatinine máu.

Tuy nhiên so với Urê, Creatinine máu cho kết quả trung thành hơn về tình trạng suy thận do nó ít bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng không phải thận.

I. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

Các triệu chứng lâm sàng của tăng Urê máu không nhất thiết đi đôi với tỷ tăng Urê máu, có trường hợp Urê máu trên 1 g/l mà không có triệu chứng lâm sàng, ngược lại có khi Urê máu chưa tới 1 g/l đã có triệu chứng lâm sàng.

1. Dấu chứng thần kinh

1.1. Nhẹ

Người bệnh thấy mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, trước mặt thấy có dấu ruồi bay, mất ngủ.

1.2. Vừa

Người bệnh lơ mơ, nói mê, vật vã.

1.3. Nặng

Thường đi vào hôn mê, co giật do phù não, đồng tử co lại, phản ứng ánh sáng kém. Khám không thấy dấu thần kinh khu trú, không có hội chứng màng não.

2. Dấu chứng tiêu hóa

2.1. Nhẹ

Ăn mất ngon, đầy bụng, chướng hơi.

2.2. Nặng hơn

Buồn nôn, ỉa chảy, lưỡi đen, niêm mạc miệng và họng bị loét, có những màng giả màu xám.

3. Dấu chứng hô hấp

Hơi thở có mùi Amoniac, rối loạn nhịp thở kiểu CheyneStokes hoặc Kussmaull. Khi hôn mê thì thở chậm và yếu. Khám phổi có thể nghe tiếng cọ màng phổi do Nitơ thoát qua mạch máu vào màng phổi gây nên.

4. Dấu chứng tim mạch

Mạch nhanh, nhỏ, tăng huyết áp. Nếu ở giai đoạn cuối của suy thận có thể gây trụy mạch. Khi khám có thể có tiếng cọ màng ngoài tim do Nitơ thoát qua màng ngoài tim.

5. Dấu chứng về huyết học

Đặc tính của Nitơ là rất dễ thấm vào các mô và gây chảy máu, và khi Nitơ thoát ra ngoài mạch máu vào các tổ chức, kéo theo cả hồng cầu, huyết tương cùng ra: ở võng mạc gây viêm võng mạc và chảy máu võng mạc, chảy máu dưới da và niêm mạc, chảy máu tiêu hóa có thể gây nôn hay đi cầu ra máu. Chảy máu màng não, phổi, tim.

Thiếu máu rất thường gặp ở bệnh nhân tăng ure máu, nặng nhe tùy theo giai đoạn, suy thận càng nặng, thiếu máu càng nặng. Đây là một dấu chứng quan trọng để chẩn đoán phân biệt giữa tăng urê máu cấp và mạn tính. Thiếu maú đa số là nhược sắc hoặc bình sắc, hình thể kích thước hồng cầu bình thường, có khi có hồng cầu to nhỏ không đều. Thiếu máu là khó hồi phục do thận không sản xuất đủ erythropoietin yếu tố cần để biệt hóa tiền hồng cầu.

6. Thân nhiệt

Thường thân nhiệt giảm.

Các triệu chứng thường xảy ra sớm ở hội chứng tăng Urê máu là triệu chứng tiêu hóa và thần kinh.Các triệu chứng khác thường xuất hiện chậm, đôi khi không có. Triệu chứng tăng Urê máu rõ ràng trên lâm sàng thường gặp trong bệnh cảnh cấp, trong trường hợp mãn tính tăng Urê máu vừa phải thường ít triệu chứng do người bệnh thích nghi, còn nếu Urê máu cao nhiều có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng thường bệnh đã nặng và ở giai đoạn cuối của suy thận.

II. TRIỆU CHỨNG SINH HÓA

1. Tăng Urê, Creatinine máu

Xét nghiệm máu có tăng urê, créatinin.

2. Dự trữ kiềm:

Dự trử kiềm giảm do hiện tượng axit máu, do một số axit như photphoric, sunfuric phát sinh từ quá trình chuyển hóa protit sinh ra bị ứ lại. Mặt khác bình thường cớ thể tạo ra nhiều NH3 để trung hòa axit thải ra, các chất kiềm cố định ( Na) được giữ lại trong cơ thể, còn các chất bazơ bay hơi NH3 sẽ trung hòa các chất thải ra. Trong suy thận, NH4OH tao ra không đầy đủ. Các chất kiềm cố định ( Na) phải thay chỗ cho NH3. Do đó gây axit máu.

3. Rối loạn các chất điện giải

PO4 tăng, K+ tăng, Ca++ giảm, Cl, Na+ thường giảm.

III. HÔN MÊ DO TĂNG URE MÁU

1. Triệu chứng

1.1. Giai đọan bắt đầu

Khi lượng ure máu tăng vừa, có các dấu hiệu trên lâm sàng như sau: nhức đầu, chân tay lạnh, hoa mắt, đau ngực, chán ăn…

1.2. Giai đoạn hôn mê

Người bệnh lơ mơ, vật vả, co giật các thớ cơ, sợ hãi, hồi hộp, đi cầu ra máu, người rất mệt, khó thở, xanh xám, nhiệt độ giảm. Khám không có liệt khu trú, tim có tiếng cọ màng tim, phổi có ran ứ dịch, cọ màng phổi, đồng tử co, huyết áp tăng.

1.3. Giai đoan hôn mê hoàn toàn

Người bệnh mê man không biết gì, phản xạ đều giảm hay mất, thở khò khè kiểu Cheynes stokes hay kussmaul, hơi thở có mùi amoniac. Thử máu có ure máu và creatinin máu tăng, K+ tăng, Cl, Na+, dự trử kiềm giảm. Người bệnh sẽ chết trong vài giờ hoặc ngày, ít khi quá 5 ngày nếu không được lọc máu kịp thời.

2. Chẩn đoán xác định hôn mê do tăng ure máu

2.1. Lâm sàng

– Hôn mê xãy ra từ từ

– Không có triệu chứng thần kinh khu trú, co đồng tử hai bên.

– Khó thở kiểu Cheynes stokes hay kussmaul hơi thở có mùi amoniac.

– Tiền sử viêm thận mạn, lao thận sỏi thận hoặc đang điều trị bệnh cầu thận cấp.

2.2. Cận lâm sàng

– Ure máu, creatinin máu cao, nước tiểu có protein, hồng cầu nhiều, trụ hạt.

– Dự trữ kiềm giảm, Cl, Na giảm, K tăng.

IV. NGUYÊN NHÂN TĂNG URE MÁU

1. Nguyên nhận tại thận

1.1. Cấp tính

– Viêm cầu thận cấp do nhiễm khuẩn hay không do nhiễm khuẩn.

– Viêm ống thận cấp do nhiễm độc.

– Sốt vàng da chảy máu do Leptospira gây hội chứng gan thận cấp.

1.2. Mãn tính

– Viêm cầu thận mạn.

– Ứ nước bể thận do sỏi lao.

– Thận đa nang.

– Viêm thận bể thận mạn.

– Xơ cứng tiểu động mạch thận.

2. Nguyên nhân ngoài thận

– Do ăn uống quá nhiều protit.

– Do mất nước và muối : do nôn, ỉa chảy

V. KẾT LUẬN

Urê máu tăng là một hội chứng cấp cứu nội khoa, khi nó gây hôn mê cần phải chẩn đoán kịp thời.

Trước một bệnh nhân hôn mê chưa rõ nguyên nhân cần thử ure, creatinin và dự trữ kiềm. Trước một bệnh nhân khó thở dạng Kussmaul hay Cheyne-Stokes có mui amoniac, có xuất huyết dưới da cần nghĩ đến tăng ure máu .Trước một bệnh viêm thận mạn có các triệu chứng trên cần nghĩ ngay đến hôn mê do tăng ure máu và có biện pháp chẩn đoán xử trí kịp thời

Đăng ký nhận thông báo
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả các bình luận
You cannot copy content of this page
Khóa học
Nội quy
Thành tích
Thảo luận
Lịch sử
Tài khoản
Copy link
Powered by Social Snap