Phác đồ xử trí sốc phản vệ

Để đáp ứng nhu cầu tự học kiến thức lâm sàng, chúng tôi giới thiệu đến bạn khóa học kiến thức lâm sàng nội khoa. Đây là khóa học được chúng tôi dành nhiều thời gian và tâm huyết để thực hiện.

Khóa học lâm sàng nội khoa Khóa học lâm sàng nội khoa

Bạn có thể tham khảo bài viết mẫu trong khóa học:
Bài viết mẫu: Tiếp cận suy thận mạn trên lâm sàng.
Truy cập vào: Danh sách bài học lâm sàng nội khoa.

TRIỆU CHỨNG: Ngay sau khi tiếp xúc với dị nguyên hoặc muộn hơn, xuất hiện cảm giác khác thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi . . .), tiếp đó xuất hiện triệu chứng ở 1 hoặc nhiều cơ quan:

Mẩn ngứa, ban đỏ, mày đay, phù Quincke.

Mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp tụt có khi không đo được.

Khó thở (kiểu hen, thanh quản), nghẹt thở.

Đau quặn bụng, tiêu tiểu không tự chủ.

Đau đầu chóng mặt, đôi khi hôn mê.

Choáng váng, vật vã, giãy giụa, co giật.

XỬ TRÍ:

Xử trí ngay tại chổ:

Ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên (thuốc đang tiêm, truyền; uống; nhỏ mắt…).

Cho bệnh nhân nằm tại chỗ.

Thuốc: Adrenaline là thuốc cơ bản để chống sốc phản vệ phải dùng ngay sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của phản vệ.

Phản vệ nhẹ (không có suy hô hấp, tụt huyết áp) : Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da 0.3- 0.5ml adrenaline 1/1000. Lặp lại mỗi 5 phút nếu chưa mất các triệu chứng.

Phản phản vệ nặng (có suy hô hấp, tụt huyết áp): Tiêm tĩnh mạch 3-5ml adrenaline 1/10.000. Lặp lại mỗi 3-5 phút nếu vẫn còn tụt huyết áp. Nếu chưa lấy được đường truyền thì tiêm bắp ( có thể bơm qua ống nội khí quản hoặc tiêm qua màng nhẫn giáp nhưng hiệu quả không bằng đường tiêm).

Nếu bệnh nhân bị tụt huyết áp kéo dài dù đã tiêm adrenaline lặp lại nhiều lần thì truyền tĩnh mạch liên tục adrenaline. Liều khởi đầu 1-4µg/kg/phút, có thể tăng dần liều để đạt hiệu quả mong muốn.

Ủ ấm, nằm đầu thấp chân cao, theo dõi huyết áp 10-15phút/ lần (nằm nghiêng nếu có nôn).

Các xử trí khác:

Xử trí suy hô hấp:

Bóp bóng qua mask hoặc qua nội khí quản với oxy 100%, có thể thở máy.

Nếu có phù thanh quản nặng không đáp ứng nhanh với adrenaline có thể mở màng nhẫn giáp hoặc mở khí quản.

Tuần hoàn:

– Đặt đường truyền TM (ngoại biên, trung tâm hoặc TM đùi) khởi đầu truyền Natriclorua 0.9% 1–2 lít trong 30-120 phút.

Các thuốc khác:

Methylprenisolone 1–2mg/kg/4giờ hoặc Hydrocortisone 5mg/kg/ giờ TTM. Dùng liều cao hơn nếu sốc nặng (gấp 2 – 5 lần).

Promethazine (pipolphen) 50mg/2ml 1/2 – 1 ống TB hay tĩnh mạch. 4 Hoặc Benadryl 25 – 50 mg TB hoặc TM.

Nếu có co thắt phế quản, có thể dùng:

+ Xịt họng, khí dung terbutaline hoặc salbutamol hoặc phối hợp thêm aminophylin truyền tĩnh mạch.

+ Terbutaline 0.5mg, 01 ống tiêm dưới da. Tiêm lại sau 6-8 giờ nếu không đỡ khó thở.

Ở các bệnh nhân suy hô hấp, tuần hoàn nặng có sử dụng thuốc ức chế bêta trước đó thì có thể điều trị thêm bằng glucagon 1-5mg tiêm tĩnh mạch. Sau đó truyền tĩnh mạch 5- 15µg/phút theo huyết áp.

Điều trị phối hợp:

Uống than hoạt 1g/kg nếu dị nguyên qua đường tiêu hoá

Băng ép chi phía trên chỗ tiêm hoặc đường vào của nọc độc.

Chú ý:

Nên chuyển BN vào khoa Hồi sức Tích cực.

Theo dõi bệnh nhân ít nhất 24 giờ sau khi huyết áp đã ổn định.

Điều dưỡng có thể dùng Adrenaline theo phác đồ khi bác sỹ không có mặt.

Hỏi kỹ tiền sử dị ứng và chuẩn bị hộp thuốc cấp cứu sốc phản vệ trước khi dùng thuốc

HỘP THUỐC CẤP CỨU CHỐNG SỐC PHẢN VỆ CẦN CÓ:

( Kèm theo thông tư số 08/199- TT – BYT, ngày 04 tháng 05 năm 1999)

Các khoản cần thiết trong hộp chống sốc (tổng cộng : 07 khoản )

Adrenaline 1mg – 1mL 2 ống

Nước cất 10 mL 2 ống

Bơm tiêm vô khuẩn (dùng một lần): 10mL 2 cái, 1mL 2 cái

Hydrocortisone hemusuccinate 100mg hoặc Methyprednisolon (Solumedrol 40mg hoặc Depersolon 30mg 02 ống).

Phương tiện khử trùng(bông, băng, gạc, cồn)

Dây garo.

Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ của bộ Y tế

Đăng ký nhận thông báo
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả các bình luận
You cannot copy content of this page
Copy link
Powered by Social Snap