Hội chứng suy thận mạn

Để đáp ứng nhu cầu tự học kiến thức lâm sàng, chúng tôi giới thiệu đến bạn khóa học kiến thức lâm sàng nội khoa. Đây là khóa học được chúng tôi dành nhiều thời gian và tâm huyết để thực hiện.

Khóa học lâm sàng nội khoa Khóa học lâm sàng nội khoa

Bạn có thể tham khảo bài viết mẫu trong khóa học:
Bài viết mẫu: Tiếp cận suy thận mạn trên lâm sàng.
Truy cập vào: Danh sách bài học lâm sàng nội khoa.

HỘI CHỨNG SUY THẬN MẠN

Chẩn đoán xác định Hội chứng suy thận mạn dựa vào:

Dấu chứng của suy thận:

Tăng urea, creatinin máu

Mức lọc cầu thận giảm

Tính chất mạn tính của suy thận:

Tiền sử bệnh thận, trước đây đã có tăng creatinin máu

Kích thước thận giảm (chiều cao < 10cm trên siêu âm, < 3 đốt sống trên ASP)

Thiếu máu (hồng cầu bình thường không biến dạng) và hạ Calci máu

Sự khác nhau giữa Suy thận mạn và Bệnh thận mạn có thể hiểu đơn giản là khái niệm của Bệnh thận mạn đã bao hàm cả khái niệm của Suy thận mạn. Cũng có thể hiểu Suy thận mạn tương ứng với Bệnh thận mạn giai đoạn III, IV và V

Cơ năng

Phù: tùy nguyên nhân, nếu nguyên nhân do viêm cầu thận mạn hoặc viêm thận – bể thận mạn giai đoạn cuối, ngoài ra bất kỳ nguyên nhân

nào khi suy thận đã ở giai đoạn cuối thì phù là hằng định

Đau đầu, ù tai, chóng mặt: do tăng huyết áp (có 80% bệnh nhân)

Chuột rút: thường xuất hiện vào ban đêm, có thể là do giảm Na+, Ca2+

Ngứa: có thể có khi lắng đọng Calci (gợi ý cường tuyến cận giáp)

Toàn thân: sức khỏe suy sụp nhanh chóng, tóc thưa dễ rụng, mặt mày phờ phạc, người cảm thấy vô lực, thờ ơ lạnh nhạt với mọi công việc, tình trạng mệt mỏi kéo dài liên miên nếu không được điều trị

Thực thể

Hội chứng thiếu máu mạn với hồng cầu đẳng sắc hoặc bình sắc và thể tích hồng cầu bình thường (thường không đặc hiệu, mức độ

thiếu máu tương ứng với mức độ nặng của suy thận mạn, đáp ứng với điều trị Erythropoietin sau 3-4 tuần)

Các triệu chứng của các cơ quan (tiêu hóa, hô hấp, thần kinh, tim mạch, huyết học, thân nhiệt) thường biểu hiện bởi Hội chứng tăng

Ngoài ra hôn mê do tăng Urea máu là biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn cuối của suy thận mạn. Bệnh nhân có thể có co giật, rối loạn tâm thần ở giai đoạn tiền hôn mê. Đặc điểm của hôn mê do tăng Urea

máu mạn là không có triệu chứng thần kinh khu trú

Tiền sử: có hoặc không chẩn đoán suy thận trước đây hoặc creatinin máu tăng trước đây

Cận lâm sàng

Xét nghiệm máu:

Urea, Creatinin tăng tương

RBC, HGB, HCT giảm tỷ lệ với mức độ suy thận, tuy nhiên WBC

và PLT bình thường

Xét nghiệm nước tiểu:

Nồng độ Urea, Creatinin niệu thấp

Protein niệu luôn dương tính cho dù là suy thận giai đoạn cuối

Có thể thấy hồng cầu niệu, bạch cầu niệu, vi khuẩn niệu, trụ niệu tùy theo nguyên nhân

Thăm dò chức năng thận:

Mức lọc cầu thận (GFR) giảm

Phân suất bài tiết Natri > 1

Siêu âm và X-quang: 2 bóng thận nhỏ đều hoặc không đều, nhu mô thận tăng âm làm xóa mờ ranh giới giữa nhu mô và đài bể thận. Nếu thận ứ nước, ứ mủ, thận đa nang thì có thể thấy bóng thận lớn

Điện giải đồ:

Na+ giảm do giữ nước làm hòa loãng, mặc dù tổng lượng Na+ có thể tăng

K+ tăng khi có thiểu niệu hoặc vô niệu (có thể gợi ý đợt cấp)

Đăng ký nhận thông báo
Thông báo về
guest
0 Bình luận
Inline Feedbacks
Xem tất cả các bình luận
You cannot copy content of this page
Copy link
Powered by Social Snap